Tăng mức chuẩn trợ giúp
xã hội lên 540.000 đồng/tháng
Từ 5/10, Nghị định số
335/2026/NĐ-CP ngày 21/8/2026 của Chính phủ quy định chính sách trợ giúp xã hội
chính thức có hiệu lực.
Nghị định quy định mức
chuẩn trợ giúp xã hội là 540.000 đồng/tháng. Trước đây, Nghị định 20/2021/NĐ-CP
quy định mức chuẩn trợ giúp xã hội là 360.000 đồng/tháng.
Mức chuẩn trợ giúp xã hội
là căn cứ để xác định mức trợ cấp xã hội, mức hỗ trợ kinh phí nhận chăm sóc,
nuôi dưỡng. Đồng thời xác định mức chăm sóc, nuôi dưỡng tại các cơ sở trợ giúp
xã hội, cơ sở chăm sóc người cao tuổi, cơ sở chăm sóc người khuyết tật, cơ sở
chăm sóc trẻ em và cơ sở chăm sóc, nuôi dưỡng khác và các mức trợ giúp xã hội
khác.
Tăng mức chuẩn trợ cấp ưu
đãi người có công
Cũng có hiệu lực từ 1/10,
Nghị định số 321/2026/NĐ-CP quy định mức hưởng trợ cấp, phụ cấp và các chế độ
ưu đãi người có công với cách mạng.
Theo đó, Nghị định quy định
tăng mức chuẩn trợ cấp ưu đãi người có công với cách mạng từ 2.789.000 đồng lên
3.012.000 đồng.
Theo quy định, mức chuẩn
nêu trên là căn cứ để tính mức hưởng trợ cấp, phụ cấp và chế độ ưu đãi đối với
người có công với cách mạng và thân nhân người có công với cách mạng.
Nghị định cũng quy định
các chế độ ưu đãi người có công với cách mạng gồm: Bảo hiểm y tế; điều dưỡng phục
hồi sức khỏe; hỗ trợ phương tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình, phương tiện, thiết
bị phục hồi chức năng cần thiết; hỗ trợ ưu đãi giáo dục tại các cơ sở giáo dục
thuộc hệ thống giáo dục quốc dân đến trình độ đại học.
Hỗ trợ thăm viếng mộ liệt
sỹ; hỗ trợ di chuyển hài cốt liệt sỹ; hỗ trợ công tác mộ liệt sỹ, công trình
ghi công liệt sỹ; xác định danh tính hài cốt liệt sĩ và các chế độ khác.
Thời gian nghỉ thai sản
được tính để xét thi đua, khen thưởng
Nghị định 368/2026/NĐ-CP
có hiệu lực từ ngày 1/10, quy định cụ thể về nguyên tắc xét danh hiệu thi đua;
hình thức khen thưởng; tiêu chuẩn khen thưởng; thẩm quyền, hồ sơ, thủ tục khen
thưởng; quỹ thi đua, khen thưởng và mức tiền thưởng.
Đáng chú ý, tại Điều 4,
quy định khen thưởng phải căn cứ vào điều kiện, tiêu chuẩn và thành tích đạt được,
không nhất thiết phải có hình thức khen thưởng mức thấp mới được khen thưởng mức
cao hơn.
Nghị định cũng quy định
thời gian nghỉ thai sản đối với cá nhân theo quy định của pháp luật được tính
là thời gian công tác để xét tặng danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng.
Khi có nhiều cá nhân, tập
thể cùng đủ điều kiện, tiêu chuẩn thì lựa chọn cá nhân nữ hoặc tập thể có tỷ lệ
nữ từ 70% trở lên để xét khen thưởng.
Thời gian giữ chức vụ để
xét khen thưởng quá trình cống hiến đối với cá nhân là nữ lãnh đạo, quản lý được
giảm 1/3 thời gian so với quy định chung.
Trường hợp cá nhân nữ
lãnh đạo, quản lý thuộc đối tượng được quy định tuổi nghỉ hưu cao hơn theo quy
định của pháp luật thì thời gian để xét khen thưởng quá trình cống hiến thực hiện
theo quy định chung.
Quy định mới về quản lý
và sử dụng Quỹ Học bổng Quốc gia
Nghị định số
317/2026/NĐ-CP quy định về tổ chức, quản lý và sử dụng Quỹ Học bổng Quốc gia,
có hiệu lực từ ngày 1/10.
Theo Nghị định, mục tiêu
hoạt động của Quỹ là thực hiện chính sách của Nhà nước nhằm phát hiện, khuyến
khích, bồi dưỡng, thu hút và phát triển nhân lực chất lượng cao; mở rộng cơ hội
học tập, nghiên cứu, phát triển kỹ năng nghề và năng lực cá nhân cho người học
theo định hướng ưu tiên của Nhà nước trong từng giai đoạn.
Hỗ trợ thu hẹp chênh lệch
cơ hội học tập giữa các vùng, miền và nhóm đối tượng; ưu tiên người học thuộc
vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc
biệt khó khăn, người học thuộc ngành, lĩnh vực ưu tiên, ngành có nhu cầu nhân lực
cao và nhóm đối tượng cần khuyến khích, hỗ trợ theo quy định.
Hỗ trợ người học trong học
tập, nghiên cứu, đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp, phát triển kỹ năng nghề, năng lực
số, năng lực hội nhập học thuật quốc tế và khả năng tham gia thị trường lao động.
Huy động, tiếp nhận, quản
lý và sử dụng hiệu quả nguồn ngân sách nhà nước và nguồn ngoài ngân sách nhà nước
để thực hiện chính sách học bổng quốc gia.
Thí điểm chế định luật sư
công từ ngày 1/10
Nghị quyết số
24/2026/QH16 của Quốc hội về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công có
hiệu lực từ ngày 1/10.
Theo đó, luật sư công là
cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan Quân đội nhân dân, sĩ quan Công an nhân
dân hoặc người làm việc trong doanh nghiệp nhà nước được cấp Chứng chỉ hành nghề
luật sư để thực hiện các công việc có tính chất pháp lý.
Mục tiêu của luật sư công
là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan nhà nước, cơ quan, tổ chức thuộc
hệ thống chính trị và doanh nghiệp nhà nước theo quy định.
Việc thí điểm được thực
hiện tại Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính, Bộ
Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Xây dựng và UBND 10 tỉnh, thành
phố gồm Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng, Cần Thơ, Quảng Ninh, Lâm Đồng,
Khánh Hòa, Đồng Nai và Bắc Ninh.
Thời gian thí điểm từ
ngày 1/10/2026 đến hết ngày 30/9/2028.
Theo Báo Tiền phong